Hiển thị các bài đăng có nhãn Xu Hướng Việc Làm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Xu Hướng Việc Làm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 9 tháng 12, 2016

Khám phá câu chuyện: Thua đau sân nhà

Theo thống kê, đầu thập niên 1990, Việt Nam chỉ có vài DN quốc doanh giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu được sự bảo hộ của Chính phủ, nhưng hiện nay đã nâng lên con số hơn 2.000 DN. Nếu đem so sánh với con số 60 DN nước ngoài đang cung cấp dịch vụ logistics tại Việt Nam, thì số lượng DN logistics Việt Nam chiếm tỷ lệ áp đảo, nhưng nhìn về “chất”, rõ ràng DN Việt Nam đang thua trắng trên sân nhà.
Quy mô nhỏ, chi phí cao do hậu quả từ hạ tầng kém khiến các DN logistics trong nước gần như nằm co trước các công ty nước ngoài hùng mạnh.
Lép vế
Hiện nay, Việt Nam có hơn 2.000 Dn trong lĩnh vực logistics
Năm 2006, Công ty Canon tại Khu công nghiệp Quế Võ, Bắc Ninh chào đấu thầu trọn gói hợp đồng logistics có trị giá rất hấp dẫn. Canon đưa yêu cầu các đối tác cung cấp nguyên liệu để sản xuất. Sản phẩm sản xuất ra, đối tác logistics phải lo từ khâu đóng gói thành phẩm cho đến khâu chuyển giao đến tận tay khách hàng.
Như vậy, từ khâu đầu vào đến khâu đầu ra, đối tác làm dịch vụ logistics phải đáp ứng các tiêu chuẩn: đúng giờ, đúng ngày, đúng số lượng, đúng chủng loại... Trước yêu cầu khắt khe của Canon, cuối cùng chỉ có 5 hãng logistics hàng đầu thế giới tham gia ứng thí, chứ không có mặt một công ty nào của Việt Nam.
Đó là câu chuyện của gần 5 năm trước, và hiện nay, sự phân chia thị phần dường như cũng không có nhiều thay đổi. Miếng bánh logistics béo bở 25% GDP của Việt Nam hiện nay vẫn thuộc về các DN nước ngoài, với mức nắm giữ 80% thị phần.
Theo thống kê, đầu thập niên 1990, Việt Nam chỉ có vài DN quốc doanh giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu được sự bảo hộ của Chính phủ, nhưng hiện nay đã nâng lên con số hơn 2.000 DN. Nếu đem so sánh với con số 60 DN nước ngoài đang cung cấp dịch vụ logistics tại Việt Nam, thì số lượng DN logistics Việt Nam chiếm tỷ lệ áp đảo, nhưng nhìn về “chất”, rõ ràng DN Việt Nam đang thua trắng trên sân nhà.
Trong lĩnh vực logistics, Việt Nam có các công ty có chút ưu thế, như các công ty nhà nước: Vinalines, Viconship, Vietrans, Vinafreight...; các công ty có nguồn gốc quốc doanh nay đã cổ phần hóa, như: Công ty CP Kho vận Miền Nam (Sotrans), Công ty CP Giao nhận Kho vận Ngoại thương (Vinatrans), Công ty CP Gemadept; hoặc các công ty mới thành lập trực thuộc các công ty quản lý cảng vụ, kho bãi,... như Tân Cảng Logistics (trực thuộc Công ty Tân Cảng Sài Gòn).
Những công ty này được thừa hưởng những lợi thế nhất định về cơ sở hạ tầng, tiềm lực tài chính trước đây. Thế nhưng, số DN còn lại chủ yếu là nhỏ lẻ và manh mún. Đây là các DN nhỏ, ít vốn và nhân lực thì đa số chỉ có 15 - 30 người/công ty. Dịch vụ cung cấp chủ yếu chỉ đơn giản như là một “cò” mua bán cước vận tải đường biển, hàng không để hưởng chênh lệch giá, hoặc mở container gom hàng lẻ, cung cấp dịch vụ khai thuê hải quan, vận tải nội địa.
Có thể thấy, dịch vụ logistics cung cấp cho toàn chuỗi cung ứng tương đối rộng, từ khâu đóng gói, kho bãi, vận chuyển quốc tế, lưu kho, phân phối... thì phần lớn công ty logistics Việt Nam không đủ năng lực tham gia sân chơi mang tính toàn cầu này.
 Đã vậy, các công ty logistics Việt Nam cạnh tranh chủ yếu bằng hạ giá để giành giật khách hàng, tự thôn tính lẫn nhau nên “miếng bánh” thị phần 20% đã nhỏ lại có nguy cơ ngày càng teo lại.
Trong khi đó, miếng bánh lớn và hấp dẫn đang thuộc về khoảng 20 DN nước ngoài hàng đầu như: APL logistics, Maersk logistics, NYK, OOCL, Yusen, Schenker...
Tất cả đều là những công ty quốc tế với khả năng cạnh tranh mạnh nhờ bề dày kinh nghiệm cả trăm năm, mạng lưới rộng khắp thế giới, nguồn tài chính mạnh, hệ thống công nghệ thông tin hiện đại, khai thác dịch vụ lâu năm. Nhất là các công ty logistics được “đẻ” ra bởi các hãng tàu lại càng có lợi thế rất lớn về cơ sở hạ tầng, mạng lưới cung cấp dịch vụ, được ưu đãi về giá cước vận chuyển từ các hãng tàu. 
 
... Đành an phận
Thực tế cho thấy, các hợp đồng vận chuyển hoặc cung cấp dịch vụ chuỗi cung ứng tại Việt Nam của các công ty lớn như Nike, Adidas, Nortel... thường về tay các “ông lớn” logistics toàn cầu.
Các công ty Việt Nam khó chen chân vì không đủ khả năng cung cấp dịch vụ cũng như tiềm lực tài chính để tham gia đấu thầu, hơn nữa, các cuộc đấu thầu hằng năm của các tập đoàn lớn thường diễn ra ở nước ngoài, nơi mà các DN Việt Nam rất khó tiếp cận.
Giám đốc một DN logistics trong nước cho biết, đặc thù của ngành dịch vụ logistics là một chu trình mang tính khép kín toàn cầu, dịch vụ cung cấp phải cạnh tranh dàn trải từ nơi cung cấp nguyên liệu tiền sản xuất đến nơi sản xuất, đưa thành phẩm từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ...
Do đó đòi hỏi DN kinh doanh logistics cũng phải thiết lập hệ thống mạng lưới rộng khắp toàn cầu nhằm đáp ứng nhu cầu rộng khắp trên thế giới. Đây là một trong những tiêu chí khi chọn nhà thầu logistics của các công ty lớn, họ kiểm tra năng lực của nhà cung cấp dịch vụ thông qua mạng lưới của các công ty logistics.
Thứ nữa là hệ thống quản lý thông tin phải được thiết lập và kết nối chặt chẽ với các nơi trên thế giới, cập nhật thông tin thường xuyên nhằm giúp việc quản lý và truy xuất một lô hàng, một đơn hàng nào đó dễ dàng, nhanh chóng và chính xác.
Trên thực tế, chỉ xét riêng hai yếu tố này thì các DN logistics Việt Nam vẫn chưa thể đáp ứng được. Bởi lẽ, với tiềm lực tài chính hạn chế (có 80% DN logistics Việt Nam thành lập có vốn dưới 1,5 tỷ đồng) thì việc vươn xa ra khu vực và thế giới là rất khó khăn.
Một thực tế cần phải nhìn nhận là các công ty logistics Việt Nam hiện nay chỉ chiếm một phân khúc rất nhỏ của thị trường, đó là khai thuê hải quan, vận chuyển nội địa và bán cước vận tải quốc tế.
Các mối quan hệ thiết lập với bên ngoài là mối quan hệ đại lý các công ty “săn” được qua mạng mà trên thực tế họ chưa một lần gặp mặt, họ có hàng xuất hoặc nhập khẩu nhờ đại lý nước ngoài quản lý giúp khâu giao hàng hoặc nhận hàng mà không cần một sự cam kết nào.
Thông thường, đối với hàng xuất từ Việt Nam, các đại lý nước ngoài sẵn sàng giúp mà không thu một khoản phí nào từ phía DN logistics Việt Nam, vì họ sẽ thu một khoản phí quản lý từ nhà nhập khẩu. Đối với hàng nhập khẩu về Việt Nam, thường các DN logistics Việt Nam phải chia một khoản lãi, hoặc là chi khoản phí quản lý (handling fee) vài chục USD/lô hàng như thỏa thuận.
Một vài công ty logistics “săn” được một vài đại lý nước ngoài có khả năng kinh doanh tốt hơn thì nhiều khả năng sẽ nhận được hàng chỉ định (nominated shipments) từ phí nước ngoài dựa trên nguyên tắc “bánh ít đi, bánh quy lại”. Một DN logistics Việt nam được xem là thành công khi có nhiều mối quan hệ đại lý như thế này.
Tuy nhiên, cũng có nhiều bài học cho các DN khi gặp đối tác làm ăn không chân chính, khi chính lỗi của họ gây ra thiệt hại nhưng lại thoái thác, không chịu trách nhiệm. Các công ty Việt Nam muốn giải quyết vụ việc êm xuôi thì phải gánh chịu mọi chi phí. Có trường hợp các đại lý nước ngoài chiếm dụng một khoản vốn khá lớn, hoặc đôi khi “xù” luôn khoản nợ sau thời gian cộng tác với nhau, rồi “đường ai nấy đi”.
Hiện nay, do quy định chỉ cho phép hình thức liên doanh giữa DN Việt Nam (ít nhất là 51%) với DN nước ngoài (cao nhất là 49%), nên các công ty nước ngoài đã thâm nhập Việt Nam bằng nhiều hình thức, từ liên doanh cho đến thành lập văn phòng đại diện...
Tuy nhiên, theo cam kết của lộ trình gia nhập WTO, Việt Nam phải mở cửa hoàn toàn thị trường logistics vào năm 2014. Khi đó sự cạnh tranh trong lĩnh vực logistics ở thị trường Việt Nam ngày càng khốc liệt với sự hiện diện của nhiều nhà cung cấp dịch vụ có mạng lưới toàn cầu.
Nhiều công ty logistics lớn của nước ngoài ở Việt Nam sẽ chuyển dần từ hình thức đại diện thương mại, liên doanh sang công ty 100% vốn nước ngoài, tiếp tục khai thác mở rộng thị phần tại Việt Nam. 

Chia sẻ cùng bạn về Logistics HUB - Chậm chân, mất phần

Ông Phạm Văn Long, Giám đốc ICD Long Bình (Đồng Nai), cho biết, đáng lẽ ICD đặt vị trí cảng ở TP.HCM, gần cảng biển, cảng sông, nhưng vì thiếu nguồn vốn nên khi Long Bình - Đồng Nai chào giá thấp nhất, Công ty quyết định làm ở đó. Vì ICD Long Bình đặt tại Đồng Nai, bắt buộc các luồng xe container phải đi ngoằn ngoèo, nên chi phí đội lên. ICD Long Bình hiện được coi là cảng thông quan tiên tiến nhất Việt Nam.
Trong báo cáo “Năng lực cạnh tranh Việt Nam” năm 2010, GS. Michael Porter đã đề cập chuyện TP.HCM cần định vị thành trung tâm logistics của khu vực (Logistics HUB). Nhưng để thực hiện giấc mơ này, Việt Nam phải giải quyết được bài toán hạ tầng yếu kém cũng như phải có một kế hoạch đầy tham vọng.
Tại... ông hạ tầng
Cảng Sài Gòn
Thứ trưởng Bộ Giao thông Vận tải, ông Nguyễn Hồng Trường, nhận định, logistics Việt Nam đang ở giai đoạn đầu. Chi phí giao nhận kho vận vẫn bị coi là lạc hậu khi còn chiếm tới hơn 20% giá thành sản phẩm, trong khi tỷ lệ này ở các nước phát triển chỉ khoảng 8 - 12%.
TS. Bùi Quốc Nghĩa thuộc Viện Khoa học Việt Nam cho biết, ngay cả Cảng Sài Gòn trong 100 năm qua chi phí vẫn thuộc hàng cao nhất thế giới. Ngoài khoảng cách vận chuyển xa quốc tế, khi tàu vào tới cảng còn phải mất 90km luồn lách mới vào tới nơi.
Theo TS. Nghĩa, hạ tầng là vấn đề cản trở lớn nhất đối với sự phát triển của logistics Việt Nam. Về hạ tầng, Ngân hàng Thế giới xếp Việt Nam ở vị trí 97/134 quốc gia tại châu Á - Thái Bình Dương. Riêng về xếp hạng logistics (LPI), Việt Nam xếp thứ 53 trong tổng số 155 quốc gia và đứng thứ 5 trong khu vực ASEAN.
Hiện Việt Nam chỉ có 36 tàu container, chủ yếu thuộc Tổng công ty Hàng hải (Vinalines) và chỉ đáp ứng được 20% nhu cầu. Đặc biệt là hệ thống cảng, trong 166 cảng thì 100 cảng là công nghệ lạc hậu.
Ngay cả hệ thống cảng rời (ICD) vốn đầu tư đơn giản hơn cảng biển, cảng sông rất nhiều, nhưng lại được bố trí không theo mô hình đối lưu với logistics, mà bố trí theo tiêu chí giá thuê đất rẻ, dễ giải phóng mặt bằng, nên chỗ nào thuận lợi sẽ lập cảng thông quan ở đó.
Ông Phạm Văn Long, Giám đốc ICD Long Bình (Đồng Nai), cho biết, đáng lẽ ICD đặt vị trí cảng ở TP.HCM, gần cảng biển, cảng sông, nhưng vì thiếu nguồn vốn nên khi Long Bình - Đồng Nai chào giá thấp nhất, Công ty quyết định làm ở đó. Vì ICD Long Bình đặt tại Đồng Nai, bắt buộc các luồng xe container phải đi ngoằn ngoèo, nên chi phí đội lên. ICD Long Bình hiện được coi là cảng thông quan tiên tiến nhất Việt Nam.
Chậm là mất
Theo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, trong khu vực Mê Kông có 4 hành lang kinh tế: Côn Minh - Bangkok, Côn Minh - Hải Phòng, Rangun - Quảng Trị, Bangkok - TP.HCM, thì 3 đổ về Việt Nam.
Với lợi thế này, theo TS. Nguyễn Tuấn Hoa thuộc Trung tâm Học tập Phát triển TP.HCM (HDLC), Việt Nam sẽ trở thành Logistics HUB nếu có một chiến lược đầu tư bài bản vào cơ sở hạ tầng.
Trong khi Việt Nam chưa có động tĩnh gì thì Thái Lan đã chính thức công bố mô hình Logistics HUB với tham vọng hấp thụ tất cả các luồng logistics của khu vực về cho mình. Với mô hình này, tham vọng của Thái Lan là thu hút được 60% luồng tàu đi qua Singapore.
Để thực thi kế hoạch đó, người Thái sẽ tiến hành xẻ một kênh đào mang tên Thai Canal nhằm hút thẳng các luồng tàu từ Thái Bình Dương về mình. Kênh đào này sẽ giống như kênh đào Panama.
- Hạ tầng logistics Việt Nam hiện có 17.000km đường bộ; 3.200km đường sắt; 42.000km đường thủy; 20 sân bay; 166 cảng biển, trong đó có 20 cảng có thể tham gia vận tải hàng hóa quốc tế với năng lực hạn chế. 
- Tổng lượng vận chuyển hàng hóa của Việt Nam khoảng 200 triệu tấn năm 2010, tốc độ tăng trưởng bình quân lượng hàng xuất nhập khẩu của Việt Nam lên đến trên 20%/năm. 70% vận chuyển hàng hóa ở khu vực phía Nam. Vai trò trung tâm đến năm 2000 thuộc về cảng Sài Gòn, 2000-2011 là cảng Cát Lái, còn từ năm 2012 sẽ thuộc về cảng Cái Mép, nơi có thể cho tàu 100.000 tấn cập cảng…
Thế nhưng, theo các nhà phân tích, kế hoạch này rất khó thực hiện, vì mực nước giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương chênh nhau rất cao, hơn 10m. Nhưng một khi làm được, chắc chắn Thái Lan sẽ ăn đứt Singapore, lúc đó các chủ tàu sẽ cho tàu đi thẳng qua Thái Lan, chứ không dại gì đi vòng để vào Singapore nữa.
Theo TS. Nghĩa, về địa lý, Thái Lan yếu thế hơn vì Việt Nam án ngữ điểm cuối vào Biển Đông.
Trong khi thị trường Biển Đông là thị trường lớn nhất thế giới, nơi hội tụ Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, phía Đông nước Nga, tiêu thụ nguồn hàng khổng lồ và xuất đi lượng hàng vô cùng lớn.
Vậy thời điểm này Việt Nam phải làm gì? Theo TS. Nghĩa, trước tiên phải đầu tư mạnh vào cảng nước sâu trọng yếu ở cuối các hành lang kinh tế. Theo nghiên cứu, ở phía Bắc sẽ xây dựng cảng Nam Đồ Sơn, Hải Phòng.
Ngoài phục vụ thị trường nội địa, nơi đây còn có một thị trường rất lớn là ba tỉnh Vân Nam, Trung Quốc với dân số 320 triệu người. Mô hình cảng Nam Đồ Sơn sẽ là cảng đào đầu tiên ở Việt Nam, tức là 1/2 trên cạn và 1/2 lấn biển. Cảng này đã được nghiên cứu cách đây 10 năm.
Ở hành lang phía Đông Tây sẽ xây dựng cảng Mỹ Thủy (Quảng Trị) thuộc vùng Mê Kông mở rộng. Nhưng về lâu dài, tầm hoạt động có thể phát triển dài ra đến tận vùng Nam Á. Thị trường này có khoảng 100 triệu dân.
Riêng ở phía Nam, ngoài hệ thống cảng Sài Gòn, Cát Lái và cảng Cái Mép, dự án cảng Gò Gia đang được đề cập đến nhiều. Thuộc Cần Giờ, cuối trục hành lang ASEAN, từ Bangkok sang Việt Nam, đối diện cảng Cái Mép, cảng Gò Gia nếu được xây dựng sẽ nằm trong top 10 cảng của thế giới. Nếu Cái Mép có 8km bến cảng thì Gò Gia có tới 55km.
TS. Bùi Quốc Nghĩa cho rằng, khi ba cảng ở ba miền được xây dựng, Việt Nam sẽ trở thành Logistics HUB của khu vực. Tuy nhiên, nếu Việt Nam chậm trễ và Thái Lan đã xây dựng được hệ thống bài bản, khi đó các chủ hàng đã quen với mô hình này, Việt Nam sẽ chịu thiệt thòi lớn.

Đi tìm câu trả lời: Làm gì để chống thương lái Trung Quốc tự do gom hàng trên đất Việt?

Việc các thương lái Trung Quốc sẵn sàng mua với giá cao hơn là vì họ không hề mất một đồng thuế nào, đồng thời không phải bỏ ra bất cứ một chi phí nào như doanh nghiệp trong nước hiện nay vẫn làm là liên kết 3 nhà, 4 nhà, ứng trước tiền, hỗ trợ kỹ thuật…cho người nuôi đồng thời hỗ trợ xăng dầu, phương tiện để người dân nuôi trồng và đánh bắt .
Việc thương lái Trung Quốc tự do và ráo riết gom hàng ở nước ta đang gây nhiều hệ lụy cho nền kinh tế và đời sống nhân dân.
Bà Phạm Chi Lan
Tình trạng thương nhân Trung Quốc đang ráo riết thu gom các loại nông sản, thực phẩm như vải thiều Lục Ngạn, thủy hải sản, sắn, trứng vịt… với giá cao hơn giá thị trường, cao hơn giá thu mua của các thương nhân Việt Nam trong thời gian qua đã khiến không ít doanh nghiệp sản xuất trong nước phải lên tiếng kêu cứu vì thiếu nguyên liệu đầu vào (tại cửa khẩu Lạng Sơn, mỗi ngày có hàng ngàn tấn nông sản, thực phẩm được xuất sang Trung Quốc).

Ý kiến của bà Phạm Chi Lan, nguyên Tổng Thư ký và Phó Chủ tịch của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng  về vấn đề này.
Bà có quan điểm như thế nào về tình hình thương nhân Trung Quốc đã và đang ráo riết đổ xô gom các mặt hàng nông sản, thủy sản ở Việt Nam?
Tất cả các thương nhân Trung Quốc khi vào Việt Nam mua bán giao dịch các mặt hàng trên đều sang theo hình thức tự do hoặc du lịch và không có bất cứ giấy phép kinh doanh nào, cũng như không thuộc tổ chức kinh doanh nào, điều này khiến chính quyền và các cơ quan chức năng không thể nào kiểm soát được khi họ kinh doanh trên địa bàn đồng thời không thể thu được một đồng thuế nào.
Về câu chuyện vải Lục Ngạn ở Bắc Giang thì nó đã xảy ra từ vài năm nay, đến mùa là các thương lái Trung Quốc lại tập trung đến đấy, tự đứng ra thu gom hàng, quyết định giá cả bao nhiêu… Và một khi họ đứng ra mua thì không ai tranh mua nổi với họ nữa (nhờ giá mua của họ tốt hơn).

Việc các thương lái Trung Quốc sẵn sàng mua với giá cao hơn là vì họ không hề mất một đồng thuế nào, đồng thời không phải bỏ ra bất cứ một chi phí nào như doanh nghiệp trong nước hiện nay vẫn làm là liên kết 3 nhà, 4 nhà, ứng trước tiền, hỗ trợ kỹ thuật…cho người nuôi đồng thời hỗ trợ xăng dầu, phương tiện để người dân nuôi trồng và đánh bắt .
Thêm vào đó, gần đây nông dân có phong trào đua nhau đi phá rừng keo để cung cấp gỗ cho các thương lái Trung Quốc làm dăm gỗ sản xuất giấy, ván ép, đồng thời phá những vùng đất để trồng sắn (khoai mì) cung cấp cho thị trường Trung Quốc.
Vậy tình trạng đó sẽ ảnh hưởng như thế nào tới đời sống người dân và nền kinh tế Việt Nam?
Một phần nó làm đảo lộn thị trường của Việt Nam, kể cả thị trường bình thường, thí dụ làm giảm mặt hàng thủy sản xuất khẩu. Các công ty thủy sản hiện nay đều kêu rất dữ dội là họ đang bị thiếu nguyên liệu trầm trọng, nguồn nguyên liệu trở nên rất bấp bênh, giá cũng đắt lên vì họ phải cạnh tranh với những thương lái Trung Quốc.
Đồng thời làm méo mó một số quy hoạch, thí dụ như khi thương nhân Trung Quốc vào thuê đất, mua gỗ, mua sắn thì người dân bỏ hết các thứ khác để trồng cho họ. Đất một khi đã trồng sắn rồi thì sau đó sẽ bạc đi rất nhanh, muốn trồng lại các thứ khác thì không trồng được cây khác nữa.
Đối với bà con khu vực nghèo, như Quảng Trị chẳng hạn, việc trồng cây keo, củ sắn để bán cho thương nhân Trung Quốc , thì trước mắt là có lợi, nhưng khi họ đột ngột dừng không mua nữa hoặc hạ giá, trả giá xuống thấp như đã từng xảy ra thì số phận của những người nông dân này sẽ ra sao? Và đến lúc họ gặp khó khăn thì Nhà nước mình lại là người phải đứng ra để gánh chịu, lo cứu trợ…
Vậy ngành quản lý thị trường ở đâu khi người nước ngoài tự do vào lãnh thổ Việt Nam kinh doanh như vậy?
Điều bất hợp lý nhất đó là để cho những thương lái của nước ngoài vào Việt Nam hoàn toàn không có giấy phép kinh doanh, không biết người ta là ai, tuy nhiên họ lại khống chế thị trường, quyết định giá cả và nhà nước hoàn toàn không kiểm soát được họ, đồng thời không thu được một đồng thuế nào.
Trong khi đó bất cứ một doanh nghiệp, một thương lái hay bất cứ hộ gia đình nào ở Việt Nam nếu đến Bắc Giang hay bất cứ địa bàn nào giao dịch kinh doanh đều phải đăng ký với nhà nước và nộp thuế.
“Ông vào nước tôi kinh doanh, mỗi ngày ông mua 100 tấn vải, trị giá 100 tấn vải là bao nhiêu thì tương ứng với thuế mà tôi đánh trên các doanh nghiệp của tôi thì tôi cũng có quyền thu của ông như thế”. Nếu không ở đây sẽ tạo ra sự bất bình đẳng giữa người công dân kinh doanh Việt Nam và một anh từ nước ngoài vào.
Trong thời gian tới cần có những biện pháp gì để khắc phục tình trạng này?
Tôi nghĩ Bộ Công thương, Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội, Bộ Công an cần đưa ra một khuôn khổ pháp lý, đưa ra quy chế về quản lý kinh doanh, hướng dẫn địa phương trong việc kiểm soát và ngăn chặn tình trạng nêu trên.
Đồng thời chính quyền các địa phương phải có trách nhiệm kiểm soát địa bàn. Những mặt hàng mang tính chất mùa vụ như vải, thì một năm chỉ tập trung dồn dập một vài tuần ở địa phương, thì chính quyền địa phương không thể không biết được.
Chính quyền địa phương là người đâu tiên phải có trách nhiệm giám sát đối với những người kinh doanh để đảm bảo tất cả những người kinh doanh đến đấy là người kinh doanh có đăng ký, có nộp thuế kinh doanh và có tất cả những địa chỉ cần thiết để khi có tranh chấp gì giữa người bán và người mua thì chính quyền còn có thể đứng ra giải quyết được.

Tìm hiểu câu chuyện: Vàng vọt vì vàng

Nói đến chuyện quyền lợi của DN bị ảnh hưởng, ông Nguyễn Văn Dưng cũng thừa nhận, hiện nay, chuyện DN lỗ nặng vì mua phải vàng chứa tạp chất không chỉ là đồn thổi mà là chuyện có thật. Đơn cử như một DN tại Hà Nội thiệt hại 12.000USD khi mua phải vàng nguyên liệu mà trong đó tỷ lệ bột “lạ” chiếm đến 49%.
Mua là “chết”
Dn kinh doanh vàng lao đao vì vàng giả - Ảnh: Quý Hòa
Ông Nguyễn Văn Dưng, Chủ tịch Hội Mỹ nghệ - Kim hoàn - Đá quý TP.HCM (SJA), cho biết, nhiều công ty chế tác vàng hiện nay đang rất lúng túng khi mua vàng của người dân, cũng như mua nguyên liệu chế tác vàng: mua trúng hàng thật thì thở phào nhẹ nhõm, mua phải vàng pha tạp chất thì chỉ biết kêu trời...
Ông Nguyễn Tu Mi, Giám đốc Công ty TNHH Kinh doanh vàng Mi Hồng, từ kinh nghiệm của mình, nói: “Về lý thuyết, ai cũng nói cứ cắt, đốt, cán vàng sẽ thấy ngay tạp chất, nhưng làm sao có thể đem sản phẩm của khách hàng đi đập, cắt, cán hay đốt? Phần lớn các cửa hàng hiện nay chỉ có thể kiểm tra bằng phương pháp đo tỷ trọng nên nắm chắc... phần chết!”.
Băn khoăn của ông Mi được hầu hết các DN kinh doanh vàng chia sẻ vì họ cũng đang hoang mang với nạn vàng giả. Một DN (giấu tên) cho biết đã lỗ hơn 7 triệu đồng/lượng vàng sau khi phân kim và lấy vàng nguyên chất ra chế tác nữ trang.
Không chỉ việc mua vàng từ người dân, vàng nguyên liệu hiện nay chủ yếu là vàng trôi nổi trên thị trường (do Ngân hàng Nhà nước cấm nhập khẩu vàng) cũng đang là một khó khăn đè nặng lên các DN chế tác vàng.
Nói đến chuyện quyền lợi của DN bị ảnh hưởng, ông Nguyễn Văn Dưng cũng thừa nhận, hiện nay, chuyện DN lỗ nặng vì mua phải vàng chứa tạp chất không chỉ là đồn thổi mà là chuyện có thật. Đơn cử như một DN tại Hà Nội thiệt hại 12.000USD khi mua phải vàng nguyên liệu mà trong đó tỷ lệ bột “lạ” chiếm đến 49%.
Một DN khác tại TP.HCM mua nhầm khoảng 10 lượng vàng nguyên liệu có pha những chất lạ, khiến DN lỗ khoảng 4 triệu đồng/lượng. Gần đây một số DN kinh doanh vàng ở Long An, Cần Thơ và TP.HCM đã mua phải vàng nguyên liệu nói là 4 số 9 nhưng thực chất có pha thêm các chất khác vào. Các DN mất từ 10 - 20% giá trị (tương đương 3,7 - 7,4 triệu đồng/lượng).
Loay hoay tự cứu
Hoang mang nhưng đến nay phần lớn các DN chỉ loay hoay tự cứu mình chứ không có phương pháp nào rõ ràng. Nói như thế vì hiện tại, chỉ có một số loại máy sử dụng kỹ thuật hiện đại có khả năng phát hiện các loại tạp chất trên trong vàng. Tuy nhiên, giá các loại máy này rất cao, từ 25.000 - 150.000USD và vẫn phải phá hủy sản phẩm như nấu chảy và cán dẹp trước khi kiểm tra.
Theo SJA, hơn 20 năm qua, Việt Nam đã sản xuất và tiêu thụ gần 26 tấn vàng trang sức nhưng các khâu quản lý về nguồn gốc, sản xuất, lưu thông… khá lỏng. Cụ thể, hiện tại quy định cho nhập vàng về do NHNN quản; tiêu chuẩn đánh giá, kỹ thuật thế nào do Bộ Khoa học và Công nghệ; còn sản phẩm lưu thông, kinh doanh thế nào do Bộ Công Thương chủ trì. Tuy nhiên, ít khi thấy sự phối hợp của ba cơ quan này trong việc kiểm tra, giám sát, đưa thị trường vàng nữ trang vào hoạt động quy củ.
Ông Trần Hải, Giám đốc Công ty kinh doanh và dạy nghề Hải Quyên, Trưởng ban Khoa học kỹ thuật của SJA, thừa nhận nếu khách hàng đem nữ trang như vòng bằng vàng 24K đến bán (chỉ một số nhẫn trơn và vòng trơn đơn giản), bằng cân tỷ trọng bình thường thì không thể phát hiện được vàng giả, còn muốn kiểm tra bằng máy hiện đại thì phải nấu chảy vàng.
Ông Hải cũng thông tin thêm là gần đây, do người dân lo lắng không mua vàng nên doanh số mua vàng của công ty giảm trung bình 20 - 30%. Nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng không chỉ đau đầu lo đối phó với các loại vàng độn vonfram mà còn phải cân đối thị trường bởi lượng người giao dịch đã giảm hẳn khi thông tin vàng giả được lan rộng trên thị trường.
Thực tế, doanh số mua bán vàng miếng tại nhiều DN giảm một nửa so với trước, thậm chí có đơn vị chỉ còn 30 - 40%. Những DN này lo ngại thị trường vàng vốn rất nhạy cảm nên “vàng độn” xuất hiện là một cú sốc khiến thị trường vàng lâm vào một cuộc khủng hoảng thực sự. Thậm chí, rất nhiều doanh nghiệp phải đóng cửa trong thời gian tới...
Khi tình hình diễn biến ngày càng phức tạp ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của nhiều DN thì SJA cũng chỉ khuyến cáo các DN hội viên cẩn trọng trong thu mua vàng trôi nổi và thời gian tới khi có những phương pháp dễ hơn để kiểm tra vàng thì sẽ thông báo đến hội viên.  

Chia sẻ cùng bạn sự thật về kim cương nhân tạo

Để người tiêu dùng tin tưởng cũng như “kích thích” nhiều người mua sản phẩm, hầu hết các cửa hàng đều đưa ra “khẳng định chất lượng” thông qua giấy kiểm định chất lượng trong và ngoài nước, hoặc tung ra các chương trình khuyến mãi hấp dẫn như giảm giá từ 10 - 30%, hoặc mua kim cương được tặng vỏ, khi bán lại sản phẩm sẽ thu lại 100%...
Lập lờ đá bột thành kim cương
PNJ sòng phẳng với người tiêu dùng khi công bố các sản phẩm ECZ - Ảnh: Quý Hòa
Hiện nay, trang sức bằng kim cương nhân tạo đang trở thành trào lưu không chỉ ở giới trẻ, mà cả những người trung niên. Vì thế, đến bất cứ cửa hàng kim hoàn nào, người tiêu dùng cũng được giới thiệu về kim cương nhân tạo. Trong các chương trình bán hàng giảm giá của các trang web, kim cương nhân tạo cũng tạo nên cơn sốt mua sắm.
Chẳng hạn, chỉ xuất hiện trên trang web www.muachung.com chưa đầy 24 giờ (bắt đầu từ chiều ngày 6/7) mà sản phẩm kim cương nhân tạo Diamondbrite Ancarat của Công ty CP Ancarat đã thu hút hơn 1.700 người đặt mua.
Khảo sát thực tế cho thấy, kim cương nhân tạo có giá rất vô chừng, từ vài trăm ngàn cho đến cả chục triệu đồng. Tại một cửa hàng kim hoàn trên đường Lê Thánh Tôn, Q.1, TP.HCM, giá viên đá CZ 4,5 li phủ carbon là 1,5 triệu đồng.
Một cửa hàng khác cũng ở khu vực này lại niêm yết giá đến 2,2 triệu đồng. Trong khi đó, tại một tiệm vàng ở Trung tâm Vàng Bạc Đá quý Bến Thành, viên cùng kích cỡ, nhập từ Hàn Quốc có giá 910.000 đồng.
Viên ở tiệm vàng Ngọc Long Châu (đối diện chợ Bàn Cờ) bán giá 350.000 đồng với cam đoan hàng nhập khẩu từ châu Âu, bán rẻ do ưu đãi của nhà cung cấp.
Ngay trên trang web www.muachung.com, kim cương nhân tạo của Công ty CP Ancarat cũng có nhiều kích cỡ với giá bán khác nhau. Viên thấp nhất chỉ 300.000 đồng, nhưng viên cao nhất lên đến 6,5 triệu đồng. Theo lời quảng cáo thì đây là loại kim cương nhân tạo nhập từ Mỹ.
Để người tiêu dùng tin tưởng cũng như “kích thích” nhiều người mua sản phẩm, hầu hết các cửa hàng đều đưa ra “khẳng định chất lượng” thông qua giấy kiểm định chất lượng trong và ngoài nước, hoặc tung ra các chương trình khuyến mãi hấp dẫn như giảm giá từ 10 - 30%, hoặc mua kim cương được tặng vỏ, khi bán lại sản phẩm sẽ thu lại 100%...
Tuy nhiên, qua tìm hiểu, các trung tâm giám định trong nước đểu khẳng định chưa bao giờ cấp giấy xác nhận cho hạt đá CZ nào là kim cương nhân tạo, mà ghi rất rõ là đá CZ. Bà Trần Bích Ngọc, ngụ tại số 329/12 Điện Biên Phủ, Q.3, cho biết:
“Tôi mua viên kim cương nhân tạo 3,5 li giá 3,5 triệu đồng tại một tiệm vàng trong chợ Vườn Chuối. Mặc dù được chủ cửa hàng cam kết sẽ mua lại, nhưng sau một tháng, tôi mang sản phẩm bán lại thì cửa hàng đưa ra rất nhiều lý do để từ chối mua, như sản phẩm bị hao mòn, trầy xước... Sau một hồi đôi co, họ chỉ đồng ý thu lại sản phẩm với giá 1,8 triệu đồng”.
Đá vẫn chỉ là đá
Ông Lê Hữu Hạnh, Phó tổng giám đốc Công ty Vàng Bạc Đá quý Phú Nhuận (PNJ), cho biết:
“Việt Nam chưa có mua bán kim cương nhân tạo. Những loại được gọi là kim cương nhân tạo bán trên thị trường hiện nay thực chất chỉ là đá tổng hợp. Loại đá này có màu trắng trong suốt, được gia công qua khâu mài để có thêm đặc tính chiếu sáng như kim cương, nhưng không thể coi là kim cương nhân tạo vì chỉ một thời gian ngắn (khoảng 6 tháng) sau khi tiếp xúc với hóa chất và bị trầy xước trong quá trình sử dụng, những hạt đá này sẽ bị xuống màu”.
Phân biệt đá CZ và kim cương nhân tạoDùng kính lúp để xem viên đá, nếu là viên đá CZ thì sẽ nhận thấy viên đá sẽ bị lỗi nhiều và tiêu chuẩn cắt mài không được chuẩn; xem cạnh của viên đá có đến 99% viên là có sọc chạy, cạnh dày hay mỏng thất thường; 1% số viên đá còn lại có thể bóng láng ở cạnh viên đá nhưng cần xem xét sự bóng láng đó có đều hay không.
Cách đơn giản hơn là lấy một tờ giấy trắng, vẽ một hình tròn rồi gạch ngang hình tròn hoặc chấm một dấu ở giữa. Lấy viên đá đặt vào giữa hình tròn, nếu mắt không nhìn thấy dấu gạch ngang hay dấu chấm thì đó là kim cương; ngược lại, nếu mắt thấy một đường đứt khúc hay dấu chấm nhòe thì đó là đá CZ.
Theo tài liệu của Viện Đá quý Hoa Kỳ, kim cương nhân tạo phải đạt được những tính chất giống như kim cương tự nhiên về trọng lượng riêng, chiết xuất, độ cứng...
Do vậy, giá thành của một viên kim cương nhân tạo gần tương đương với kim cương thiên nhiên. Còn đá CZ với công thức hóa học là ZrSiO4, trong suốt giống kim cương nhưng trọng lượng lớn hơn 1,7 lần so với một viên kim cương cùng kích thước.
Một viên CZ hoàn hảo về các mặt cắt cũng như kỹ thuật mài có thể đạt độ sáng gần bằng với một viên kim cương. Nhất là khi giới kim hoàn dùng công nghệ nano, phủ một lớp carbon lên bề mặt nên đá CZ có màu sắc rất đẹp.
Thậm chí, viên đá này còn có thể đánh lừa cả bút thử kim cương. Trên thực tế, đá CZ có giá chỉ vài chục ngàn cho đến chưa tới một trăm ngàn đồng.
Sự lập lờ của thị trường “kim cương nhân tạo” khiến người tiêu dùng mất tiền oan, nhưng cơ quan quản lý cũng chưa có cách xử lý. Có vẻ như sòng phẳng với người tiêu dùng, PNJ tung ra dòng trang sức mới mang tên ECZ (Excellent Cubic Zirconia. Theo bà Cao Thị Ngọc Dung, Tổng giám đốc PNJ, ECZ có những giác cắt hoàn hảo của kim cương, mang đến cho khách hàng thêm sự lựa chọn mới.
Tuy nhiên, bà Dung cũng khẳng định, đây là đá CZ, chứ không phải là sự thay thế hay so sánh với trang sức kim cương, tránh đi sự lập lờ mà trước giờ một số doanh nghiệp cố tình tạo ra để móc túi người tiêu dùng.
Lãnh đạo PNJ tin rằng dòng sản phẩm này sẽ đưa doanh thu của PNJ tăng cao. Bởi theo đánh giá của ông Hạnh, hiện tại, các sản phẩm gắn đá CZ chiếm 20% doanh thu của PNJ và sẽ tăng lên 50% trong thời gian tới.  

Thực trạng sự việc của một kho, lo một đống!

Trong đó, các nhà máy đường có số lượng tồn kho lớn là Nhà máy đường Tây Ninh sản xuất được 76.000 tấn nhưng tồn kho 50.000 tấn; Nhà máy đường Việt - Đài, sản xuất 40.500 tấn, tồn kho 30.000 tấn; Nhà máy đường Lam Sơn sản xuất 70.000 tấn, tồn kho 51.159 tấn; Nhà máy đường Khánh Hòa sản xuất 30.000 tấn, tồn kho 29.000 tấn...
Hàng tồn đầy kho
Số lượng thép tồn kho đến đầu tháng 6 gần 400.000 tấn. Ảnh: Quý Hòa
Trong báo cáo tháng 5/2011 của Tổng cục Thống kê, sản xuất đường mía là ngành đứng đầu về tốc độ gia tăng giá trị sản xuất công nghiệp trong 5 tháng đầu năm nay, với mức tăng tới 44,9% so với cùng kỳ năm 2010.
Thế nhưng, theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, lượng đường tồn kho đến giữa tháng 6/2011 là 347.700 tấn, cao hơn cùng kỳ năm trước 106.900 tấn!
Trong đó, các nhà máy đường có số lượng tồn kho lớn là Nhà máy đường Tây Ninh sản xuất được 76.000 tấn nhưng tồn kho 50.000 tấn; Nhà máy đường Việt - Đài, sản xuất 40.500 tấn, tồn kho 30.000 tấn; Nhà máy đường Lam Sơn sản xuất 70.000 tấn, tồn kho 51.159 tấn; Nhà máy đường Khánh Hòa sản xuất 30.000 tấn, tồn kho 29.000 tấn...
Theo bà Dương Thị Tố Châu, Giám đốc Thương mại Công ty đường Bourbon Tây Ninh: “Sở dĩ ngành đường tồn kho nhiều là do đường lậu nhập về quá nhiều không kiểm soát được, các loại đường này lại không bị đóng thuế nên bán giá rẻ hơn đường sản xuất trong nước.
Chẳng hạn, đường RE bán 19.200 đồng/kg, RS giá 18.500 đồng/kg, thì đường lậu chỉ bán 18.100 đồng/kg. Bên cạnh đó, do dự đoán nhu cầu của Hiệp hội Mía đường không chính xác, lúc thừa, lúc thiếu khiến DN sản xuất không chủ động được kế hoạch”.
Mặt khác, Bộ Công Thương cũng cho nhập đường quá sớm, ngay từ đầu năm 2011, trong khi hàng tồn kho trong nước khoảng 340.000 tấn đủ cho nhu cầu tiêu thụ trong nước đến hết tháng 9 năm nay, đủ cho vụ sản xuất mới.
Một thực trạng khác dẫn đến hàng tồn kho của ngành mía đường, theo bà Châu là hiện nay, trong số 38 nhà máy sản xuất đường, có rất nhiều nhà máy công suất nhỏ, không có vùng nguyên liệu nên các nhà máy này phải mua nguyên liệu với giá cao, dẫn đến giá thành cao, khó cạnh tranh và hàng bị tồn kho.
Lượng đường tồn kho càng nhiều thì lãi suất ngân hàng tăng thêm từng ngày. Chính vì vậy mà một số nhà máy đường đã giải quyết “bài toán” tồn kho bằng cách dừng sản xuất vài ngày một tuần như nhà máy đường Kiên Giang và Cà Mau. Hoặc số khác thì giảm giá bán đường để trả lãi vay ngân hàng và phí mua nguyên liệu.
Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, ngoài sức mua hạn chế, lạm phát tăng thì nguyên nhân dẫn đến hàng tồn kho còn có rất nhiều lý do cả chủ quan lẫn khách quan. Song, hệ lụy của hàng tồn kho là giảm giá trị của tăng trưởng sản xuất công nghiệp, nhiều DN kinh doanh bị giảm sút, có nguy cơ phải thu hẹp sản xuất.
Không riêng ngành chế biến thực phẩm, ngành sản xuất công nghiệp, xi măng, thép xây dựng, gạch ốp lát granit nhân tạo, sơn, kết cấu thép, ống nhựa, dây và cáp điện đều có lượng tồn kho tăng từ trên 20% đến gần 150%. Riêng ngành thép, số thép tồn kho đến đầu tháng 6/2011 xấp xỉ 400.000 tấn.
Ông Phạm Chí Cường, Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam, cho biết, một trong những nguyên nhân khiến ngành thép bị dư thừa là do có quá nhiều nhà máy sản xuất thép được cấp phép. Trong khi mức cầu trong nước chỉ khoảng 50 - 60% công suất. Theo ước tính, mỗi tấn thép tồn kho, DN sản xuất sẽ thiệt hại ít nhất 300.000 đồng/tháng cho tiền lãi vay ngân hàng. Chính vì vậy, nhiều công ty đã giảm sản lượng, có những DN hiện chỉ còn hoạt động với 40% công suất thiết kế.
Gồng gánh không nổi
Đại diện Công ty Tôn Hoa Sen cũng cho biết: “Để tránh hàng tồn kho, giải pháp hữu hiệu nhất của chúng tôi là xuất khẩu. Song, muốn xuất khẩu hiệu quả thì cũng phải tìm thị trường phù hợp”.
Tương tự, bài toán giải quyết hàng tồn kho của Casumina là chỉ sản xuất theo kế hoạch cứng, nghĩa là theo đơn đặt hàng. Ông Võ Duy Hồng, Phụ trách thương hiệu Casumina, cho biết:
“Trước đây, chúng tôi thường tồn kho tới 2, 3 tháng. Bây giờ, lãi suất ngân hàng cao nên công ty giảm kế hoạch tồn kho xuống còn 1 tháng. Bài học bày được rút ra từ khủng hoảng thừa vào năm 2008, chúng tôi bị tồn kho mất 6 tháng, bình quân một tháng lỗ 200 tỷ đồng”.
Ở lĩnh vực sản xuất dược phẩm, DS. Nguyễn Thị Thu Hồng, Công ty Imexpharm, cũng cho biết:
“Đối với thuốc nhập khẩu, nếu là hàng OTC (không kê toa), khi tỷ giá tăng vọt, DN sẽ chủ động ngưng nhập để tránh tồn kho. Nhưng nếu là hàng sản xuất trong nước thì 90% nguyên phụ liệu phải nhập khẩu nên hàng tồn sẽ là gánh nặng về nguồn vốn. Mặt khác, thuốc là mặt hàng mà tồn kho thì không thể khuyến mãi, bán một, tặng một để đẩy tồn kho nên khi hàng cận hạn là phải hủy”.
Ở lĩnh vực sản xuất chế biến thức ăn gia súc, ông Phạm Đức Bình, Phó chủ tịch Hiệp hội Sản xuất thức ăn chăn nuôi, cho biết: “Tồn kho trong lĩnh vực chế biến thức ăn gia súc chủ yếu là tồn kho nguyên liệu. Bởi vì, 90% nguyên liệu sản xuất đều nhập khẩu.
Để giải quyết hàng tồn kho, các DN sản xuất sẽ phải giảm sản lượng, và sản lượng giảm bao nhiêu thì tương ứng với nguyên liệu tồn kho bị ứ đọng bấy nhiêu. Chẳng hạn, thay vì kế hoạch tồn kho trong ba tháng như trước đây thì hiện nay chúng tôi rút xuống còn một tháng”.
Song, các giải pháp trên mới chỉ là ngắn hạn, bài toán căn cơ để giải quyết hàng tồn kho theo các DN là phải có sự hỗ trợ tích cực từ phía các cơ quan chức năng và các Hiệp hội.
Cụ thể, ở lĩnh vực sản xuất đường thì phải có biện pháp chống buôn lậu hiệu quả, phải có những dự đoán chính xác cung cầu cũng như quy hoạch các vùng nguyên liệu, các dự án sản xuất, xây dựng nhà máy sản xuất một cách hợp lý, phù hợp cung cầu. 

Hướng dẫn bạn 6 bước cơ bản khi xây dựng một website bán hàng

Xây dựng trang là bước quan trọng nhất để thiết lập một trang web thương mại điện tử. Số lượng trang, những nội dung quan trọng nên được “in đậm” trong tài khoản của bạn. Một lời mời chào ấn tượng để giới thiệu sản phẩm sẽ giúp bạn thu hút được sự chú ý của khách hàng đấy! Cài đặt các liên kết để khách hàng có thể chuyển đổi từ trang này sang trang khác một cách dễ dàng.
Mua sắm và bán hàng qua mạng (thương mại điện tử) không chỉ là cách kinh doanh hiện đại mà còn mang lại cho bạn những khoản thu nhập đáng kể. Điều đáng nói là bạn không biết nên bắt đầu từ đâu, hãy bắt đầu từ những bước cơ bản dưới đây.
 Xác định sản phẩm kinh doanh
Xây dựng thành công trang web thương mại, bạn sẽ có cơ hội thu những khoản tiền không nhỏ
Thiết lập một gian hàng kinh doanh trực tuyến không phải là việc khó khăn. Bước đầu tiên bạn hãy xác định mặt hàng bạn định kinh doanh trên mạng, sau đó là chọn trang Web. Trang web đóng vai trò hết sức quan trọng, nó giống như một thỏi nam châm hút sự chú ý của khách hàng tới gian hàng của bạn. Chính vì vậy hãy chọn cho mình một trang web thân thiện với người sử dụng nghĩa là dễ nhớ, dễ vào, giao diện bắt mắt và được nhiều người biết tới.
Nghiên cứu kỹ
Sau khi đã xác định được mặt hàng và chọn trang web, bạn cần nghiên cứu tới giá trị của các mặt hàng bạn định kinh doanh. Hãy nhớ rằng mục đích của bạn là kiếm tiền, chính vì vậy hãy chọn các sản phẩm và định giá nó sao cho phù hợp nhất có thể. Nghiên cứu cách thiết kế, bố trí các hình ảnh sản phẩm trên gian hàng và hướng dẫn giao dịch cho khách hàng.
Mua một tên miền
Sau khi nghiên cứu kỹ các bước trên, bạn nên đăng kí một tên miền. Thay vì chọn một tên miền phức tạp hãy chọn một tên miền thật dễ nhớ, ngắn gọn, súc tích và có liên quan đến các sản phẩm bạn định kinh doanh. Chủ đề của trang web nên tương thích với các từ khóa, bạn cũng nên liên kết với máy chủ của web để thống nhất về không gian web, cơ sở dữ liệu, giá cả..trước khi đầu tư.
Xây dựng trang web
Xây dựng trang là bước quan trọng nhất để thiết lập một trang web thương mại điện tử. Số lượng trang, những nội dung quan trọng nên được “in đậm” trong tài khoản của bạn. Một lời mời chào ấn tượng để giới thiệu sản phẩm sẽ giúp bạn thu hút được sự chú ý của khách hàng đấy! Cài đặt các liên kết để khách hàng có thể chuyển đổi từ trang này sang trang khác một cách dễ dàng.
Thiết kế trang web
Hãy nhờ tới sự giúp đỡ của các chuyên gia đồ họa và các chuyên viên thiết kế trang web. Các phần bạn cần đưa vào trong trang đầu của mình là tên công ty, tên sản phẩm, mô tả ngắn gọn sản phẩm, những thông tin mới và thông tin liên lạc. Nếu thiết kế theo cách này sẽ giúp khách hàng có thể tìm kiếm các mặt hàng họ cần một cách rõ ràng và dễ dàng. Một chú ý trong khi thiết kế trang là đừng nên quá tham lam các đường link liên kết, việc bạn để quá nhiều đường link sẽ khiến trang web của bạn trông rối mắt và thiếu tính chuyên nghiệp. Hãy nhớ: đơn giản và tinh vi là những từ miêu tả tuyệt nhất về trang web của bạn.
Phương thức thanh toán
Khách hàng sẽ tự chọn cho họ những cách thanh toán riêng, có thể là bằng tiền mặt, bằng thẻ tín dụng hoặc qua chuyển khoản. Với bạn hãy tạo một tài khoản ở ngân hàng để làm phương thức thanh toán cho riêng mình (trong trường hợp khách hàng của bạn ở xa nơi bạn sinh sống, họ có thể chuyển tiền vào thẻ cho bạn trước khi nhận hàng), đăng thông tin về mã số thẻ và hướng dẫn khách hàng của bạn về phương thức thanh toán.

Tham khảo liên quan đến câu chuyện của New Choice Foods

Dù DEHP là sự cố bất ngờ (DEHP không nằm trong chỉ tiêu kiểm tra an toàn thực phẩm, chưa có quy định về giới hạn tối đa trong thực phẩm), nhưng ông Cheng Huang Ming, Giám đốc NCF, xác định: “Dù thế nào thì New Choice Foods cũng đang đứng trước tình thế bị người tiêu dùng mất niềm tin và cách tốt nhất để lấy lại niềm tin là công khai bày tỏ thái độ cầu thị, nhận khuyết điểm và cam kết đưa ra sản phẩm mới an toàn”.
NBC tổ chức họp báo ngay sau sự cố
Từ cảnh báo này, 9.984 thùng rau câu hương vị khoai môn (Taro) của New Choice Foods (NCF) đã bị thu hồi vì nghi ngờ có chất DEHP do nhập nguyên liệu từ Dục Thân.
Ngay sau khi thông tin thạch rau câu NCF bị thu hồi vì nhiễm chất phụ gia độc hại được lan rộng, công ty này đã rơi vào tình trạng ngưng trệ hoạt động. 18 hương vị rau câu khác của NCF dù không bị nhiễm DEHP nhưng cũng bị người tiêu dùng tẩy chay.
Chỉ trong vòng một tháng, công ty này đã thiệt hại hơn 2 tỷ đồng. Nhưng theo thừa nhận Ban lãnh đạo của NCF, thiệt hại lớn nhất là uy tín thương hiệu và hơn 500 nhân viên đang trong tình trạng bế tắc việc làm.
Dù DEHP là sự cố bất ngờ (DEHP không nằm trong chỉ tiêu kiểm tra an toàn thực phẩm, chưa có quy định về giới hạn tối đa trong thực phẩm), nhưng ông Cheng Huang Ming, Giám đốc NCF, xác định:
“Dù thế nào thì New Choice Foods cũng đang đứng trước tình thế bị người tiêu dùng mất niềm tin và cách tốt nhất để lấy lại niềm tin là công khai bày tỏ thái độ cầu thị, nhận khuyết điểm và cam kết đưa ra sản phẩm mới an toàn”.
Vì vậy, ngày 9/7, NCF đã tổ chức cuộc họp báo và đích thân ông Cheng Huang Ming đã có lời xin lỗi đến người tiêu dùng và nhà phân phối vì sự cố đáng tiếc.
Thái độ tích cực, cầu thị của NCF còn được thể hiện qua việc trước đó, ngay khi xảy ra sự cố, dù chưa có thông báo của cơ quan chức năng, công ty đã tự thu hồi sản phẩm Taro, đồng thời cùng với Cục Vệ sinh an toàn thực phẩm tái kiểm nghiệm 18 sản phẩm khác.
Bài học quản trị mà NCF chân thành chia sẻ là: “Trong sản xuất, kinh doanh, mọi nỗ lực đầu tư sẽ trở nên vô giá trị nếu doanh nghiệp lơi lỏng, dù chỉ một khâu nhỏ trong chuỗi vận hành sản xuất.
Cụ thể bài học của NCF là việc quản lý nguồn nguyên liệu đầu vào chưa nghiêm ngặt đã khiến công sức xây dựng thương hiệu trong nhiều năm bị suy sụp trong phút chốc”.
Theo đánh giá của các chuyên gia tư vấn thương hiệu, cách giải quyết khủng hoảng của NCF là hiệu quả. Thứ nhất, NCF đã đảm bảo nguyên tắc giải quyết khủng hoảng càng nhanh càng tốt.
Thực tế, vụ Knorr “tự nhiên hơn bột ngọt” đã bị “to chuyện” và đánh mất lòng tin người tiêu dùng chỉ vì Công ty Unilever có cách xử lý thiếu nhanh chóng và quyết liệt ngay từ đầu.
Thứ hai, theo kinh nghiệm xử lý khủng hoảng, cách đơn giản và ít tốn kém nhất là tổ chức một cuộc họp báo công khai để giải thích, giải tỏa thắc mắc của công chúng. Điều này giúp DN có thêm uy tín nếu DN đúng.
Thứ ba, NCF đã dựa vào một “đại sứ” xử lý khủng hoảng đủ tầm, đủ mạnh, đó là sự có mặt của Phó Cục trưởng Cục vệ sinh an toàn thực phẩm để công nhận chất lượng sản phẩm của NCF không nhiễm DEHP.
Thực tế, cách ứng phó này cũng đã mang lại thành công cho ngân hàng ACB trong đợt khủng hoảng cách đây 6 năm. Lúc đó, ACB đã nhờ ông Lê Đức Thúy, nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước xuất hiện, đảm bảo sự an toàn khi gửi tiền ở ACB, nên đã nhanh chóng lấy lại niềm tin nơi khách hàng. 

Tìm hiểu vấn đề đầu đã xuôi nhưng đuôi khó lọt

Một mô hình nhượng quyền cũng đang được khá nhiều doanh nghiệp lựa chọn, đó là tự thân doanh nghiệp, nhà đầu tư Việt Nam đi mua các thương hiệu nhượng quyền từ nước ngoài như Công ty Bình Minh Toàn Cầu đã mua nhượng quyền cửa hàng bánh BreadTalk của Singapore và đến nay đã mở được 2 cửa hàng, hoặc lẩu tươi MK (Thái Lan) được Công ty CP Cổng Đầu tư toàn cầu mua nhượng quyền từ Tập đoàn MK (Thái Lan), kem Bud’s mua nhượng quyền từ Mỹ...
Ngay khi vào Việt Nam, nhượng quyền thương mại đã nhanh chóng nở rộ với nhiều hình thức khác nhau. Tuy nhiên, qua thăm dò thị trường, gần 80% công ty kinh doanh theo hình thức nhượng quyền thương mại phải giảm bớt số lượng cửa hàng sau 7 năm hoạt động, không ít thương hiệu nhượng quyền đã đi chệch hướng.
Muôn vẻ nhượng quyền
Mô hình nhượng quyền đầu tiên được khá nhiều doanh nghiệp, nhà đầu tư nhỏ và vừa quan tâm, đó là thương hiệu do chính công ty trong nước tạo ra. Sau một thời gian thành công, các doanh nghiệp này chọn nhượng quyền như một chiến lược cốt lõi để phát triển kinh doanh, đặc biệt là tham vọng mở rộng nhượng quyền ra thị trường nước ngoài.
Hai cái tên được nhắc đến đầu tiên là Phở 24 và cà phê Trung Nguyên. Hiện tổng số cửa hàng Phở 24 nhượng quyền trong nước đã đạt con số nhỉnh hơn 100 và 16 cửa hàng ở Indonesia, Campuchia, Hàn Quốc, Philippines, Hồng Kông và Nhật Bản.
Riêng Trung Nguyên do nhanh chóng nhận ra cơ hội mở rộng thương hiệu từ mô hình nhượng quyền, đã bỏ ra 3 triệu USD để thuê tư vấn nước ngoài cho chiến lược franchise tại Việt Nam, hiện đã có gần 1.000 quán cà phê nhượng quyền trên cả nước và 8 quán ở Mỹ, Nhật, Singapore, Thái Lan, Trung Quốc, Campuchia, Ba Lan, Ukraina.
Ngoài Phở 24 và Trung Nguyên, cũng có một số thương hiệu trong nước có tốc độ franchise khá nhanh như thương hiệu thời trang Foci (đã phát triển 40 cửa hàng), Kinh đô, Vissan...
Lotteria phát triển nhanh chóng tại VN
Mô hình nhượng quyền được xếp vào loại “cao cấp”, đó là các thương hiệu nước ngoài vào Việt Nam và tự franchise cho các nhà đầu tư trong nước. Điển hình của mô hình này là Lotteria, Goloria Jeans Coffees, Lee’s Sandwiches, Jollibee, KFC, Coffe Bean & Tea Leaf, Pizza Hut... (thực phẩm), Louis Vuitton, CK, Mango, Timberland... (thời trang), Cartridge World (mực in)...
So với các công ty trong nước, nhượng quyền thương mại nước ngoài có sức hấp dẫn cao hơn vì có quy trình làm việc chuẩn và thời gian phát triển thương hiệu tương đối lâu, phủ khắp toàn cầu.
Trong khi các doanh nghiệp Việt Nam lại yếu về kỹ thuật thiết lập hệ thống, duy trì chất lượng của hệ thống và kinh nghiệm kinh doanh nhượng quyền. Đó cũng là lý do vì sao những thương hiệu nước ngoài hiện đang chiếm ưu thế về nhượng quyền so với các thương hiệu trong nước.
Mặt khác, cũng vì có tính chuyên nghiệp và quy trình làm việc chuẩn nên khi vào Việt Nam, các thương hiệu này thường ưu tiên quyền kinh doanh cho những doanh nghiệp nước ngoài khác, như SUTL chuyển cho KFC; Pizza Hut chuyển cho IFB Holdings of Singapore và chuỗi nhà hàng burger Philipines lại chuyển cho những doanh nghiệp Philipines khác quản lý.
Một mô hình nhượng quyền cũng đang được khá nhiều doanh nghiệp lựa chọn, đó là tự thân doanh nghiệp, nhà đầu tư Việt Nam đi mua các thương hiệu nhượng quyền từ nước ngoài như Công ty Bình Minh Toàn Cầu đã mua nhượng quyền cửa hàng bánh BreadTalk của Singapore và đến nay đã mở được 2 cửa hàng, hoặc lẩu tươi MK (Thái Lan) được Công ty CP Cổng Đầu tư toàn cầu mua nhượng quyền từ Tập đoàn MK (Thái Lan), kem Bud’s mua nhượng quyền từ Mỹ...
Theo ông Trần Tịnh Minh Triết - CEO Công ty tư vấn nhượng quyền Best Fortune, điều này có mặt tốt và có mặt rủi ro. Tốt là những thương hiệu này đã chứng minh được sự thành công của phương pháp kinh doanh từ nhiều nước, có hệ thống vận hành đầy đủ và chi tiết giúp người nhận nhượng quyền hoạt động dễ dàng hơn.
Rủi ro là các thương hiệu này thương rất ít linh động cho sự thay đổi ở các thị trường địa phương, nên một số phương thức vận hành không phù hợp với tập quán Việât Nam, điều này có thể gây ra khó khăn cho kinh doanh ở nội địa và cho người nhận nhượng quyền.
Từ lạc hướng đến giảm số lượng
Thực tế cho thấy, sau một thời gian rầm rộ mở chuỗi nhượng quyền, rất nhiều thương hiệu đã rơi vào tình trạng kinh doanh không khả thi, chất lượng và bản sắc thương hiệu không còn sự đồng nhất, một số thương hiệu nhượng quyền đã phải thu bớt số lượng hoặc đang chọn hướng hoạt động “chậm dần đều” để củng cố và bảo tồn.
Cụ thể, Phở 24 có kế hoạch tăng lên 200 cửa hàng vào năm 2012, xem ra khó thành hiện thực vì chỉ còn nửa năm nữa để thực hiện gần 100 cửa hàng nhượng quyền, chưa kể một số cửa hàng nhượng quyền của Phở 24 ở trong nước và nước ngoài đã phải đóng cửa.
Nguyên nhân do chủ nhượng quyền này chạy theo số lượng nên không quản lý nổi, dẫn đến chất lượng sa sút, thậm chí cung cách phục vụ nhiều nơi không theo tiêu chí nhượng quyền ban đầu.
Bên cạnh đó còn do sự cạnh tranh quá gay gắt giữa chính các cửa hàng Phở 24 với nhau, nên nhiều cửa hàng thu nhập thấp, phải kinh doanh thêm “hầm bà lằng” các món khác. Thậm chí có cửa hàng còn phát triển dịch vụ cộng thêm như kinh doanh game.
Bên cạnh Phở 24, Trung Nguyên cũng trong tình trạng tương tự. Cụ thể, các cửa hàng cà phê Trung Nguyên đang mất dần số lượng, nhiều quán không còn giữ “bản sắc” Trung Nguyên như ban đầu.
Thực tế, không chỉ do chạy theo số lượng dẫn đến việc quá tầm kiểm soát các cửa hàng mà kỳ thực, ông chủ Trung Nguyên chỉ bán cái tên thương hiệu (nghĩa là các đối tác nhận nhượng quyền chỉ mua cà phê do Trung Nguyên cung cấp và mở quán mang tên thương hiệu này), hơn là nhượng quyền thương hiệu đúng nghĩa (tức mọi chi tiết kinh doanh đều phải đồng bộ, từ cách trang trí nội thất, quy mô quán, thực đơn, cho đến sổ sách và các báo cáo tài chính).
Tương tự thương hiệu Cháo Cây Thị, sau hơn 10 năm gầy dựng với hệ thống nhận diện thương hiệu khá bắt mắt, nâng dịch vụ cung cấp cháo, súp ăn liền cho trẻ em từ bình dân đến cửa hàng dinh dưỡng cao cấp, phục vụ nhanh và vệ sinh.
Thế nhưng, sau hai năm nhượng quyền với tốc độ khá nhanh và đại trà, nhất là ở các quận xa, không ít cửa hàng nhượng quyền cháo Cây Thị đã phải đóng cửa vì doanh thu không như ban đầu, chất lượng sản phẩm ở các cửa hàng không giống nhau, nhất là khi thương hiệu này có dính líu đến vụ cho phụ gia bảo quản gây hại, thì hầu như các cửa hàng nhượng quyền của Cây Thị đều phải đóng cửa vì kinh doanh không hiệu quả.
Không chỉ thương hiệu nội địa, một số thương hiệu lớn nước ngoài dù rất “nghiêm khắc” với nguyên tắc nhượng quyền, nhưng sau vài năm kinh doanh cũng phải thay đổi thực đơn để đáp ứng nhu cầu người dân địa phương. Chẳng hạn, KFC khi kinh doanh tại Việt Nam đã đưa thêm cơm vào trong thực đơn...